Đang tải nội dung...
Xin vui lòng chờ trong giây lát 
GS-TSKH-NGND PHAN NGUYÊN HỒNG: NGƯỜI TIÊN PHONG
VÀ HẾT MÌNH VỚI HỆ SINH THÁI RỪNG NGẬP MẶN
![]() |
|
Vài nét về GS-TSKH-NGND Phan Nguyên Hồng: Sinh ngày: 19.7.1935.
Quê quán: Xã Đức Vĩnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
Một số vị trí công tác: Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu HST RNM (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội); nguyên Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường (Đại học Quốc gia Hà Nội) - phụ trách Ban Nghiên cứu HST RNM (MERD); Phó Chủ tịch Hội sinh thái học Việt Nam; Uỷ viên BCH Hội Sinh học Việt Nam; Uỷ viên BCH Hiệp hội HST RNM quốc tế; Uỷ viên Hội đồng Tư vấn khoa học và công nghệ thuộc Ban Chỉ đạo Quốc gia khắc phục hậu quả chất độc hoá học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam (Văn phòng 33).
Hoạt động nghiên cứu khoa học: 1970: Bảo vệ luận án Phó tiến sỹ (nay là Tiến sỹ); 1991: Bảo vệ luận án TSKH, được Nhà nước phong học hàm GS; từ 1980 đến nay: Chủ nhiệm 7 đề tài cấp nhà nước và 2 đề tài cấp bộ; tổ chức nhiều đợt truyền thông và tập huấn về bảo vệ RNM và HST đất ngập nước vùng ven biển; biên soạn 8 cuốn sách chuyên khảo liên quan đến tài nguyên, môi trường ven biển; chủ trì 8 hội thảo quốc gia về quản lý đất ngập nước ven biển và RNM; đăng tải hàng trăm công trình trên các tạp chí trong và ngoài nước
Khen thưởng: Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì; Huân chương Lao động (hạng Nhất và hạng Nhì); Danh hiệu Nhà giáo Ưu tú, Nhà giáo Nhân dân; Huy chương Vì sự nghiệp giáo dục, “Vì sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng, “Vì sự nghiệp phát triển nghề cá; Chiến sỹ thi đua toàn quốc (từ năm 1991 đến 1999); Giải thưởng xuất sắc về Bảo vệ môi trường năm 2005; Giải thưởng Cosmos quốc tế năm 2008.
|
![]() |
GIANG QUÂN
![]() |
| Giáo sư Phan Nguyên Hồng. |
![]() |
|
Giáo sư Phan Nguyên Hồng cùng gia đình tại lễ trao giải thưởng Cosmos 2008 tổ chức tại Nhật Bản. Ảnh: Anh Tuấn. |
Công trình nghiên cứu đầu tay mang lại cho giáo sư điều gì và có giúp ích người dân ý thức được việc phải bảo vệ RNM không?
- Tôi được nhà trường giao dạy môn Sinh thái học, một môn mà tôi không được học chữ nào. Tài liệu ở nước ngoài ngày đó, nhất là tài liệu về rừng nhiệt đới hiếm nên mình phải tự mày mò. Sau này tôi mới biết, trước những năm 1970, trên thế giới cũng còn rất ít tài liệu viết về giá trị của RNM đối với hải sản. Qua đó tôi thấy thích và quyết tâm nghiên cứu sâu để đưa vào giáo trình.
Nhưng tôi là người may mắn. Khi viết xong kết quả nghiên cứu RNM ở Quảng Ninh nộp lên Phòng khoa học, đúng dịp này có ông Bộ trưởng Bộ giáo dục Liên Xô cũ sang thăm. GS Nguyễn Cảnh Toàn - Hiệu trưởng Trường ĐHSP giới thiệu công trình của tôi với ngài bộ trưởng. Ông ấy nói: "Nếu thế này ở Liên Xô là đủ để bảo vê luận án phó tiến sĩ rồi".
Từ ý kiến đó và được nhà trường tạo điều kiện, tôi cùng với thầy Lê Quang Long và thầy Phan Cự Nhân tiếp tục viết tóm tắt luận án bằng tiếng Nga. Sau khi viết xong gửi qua Liên Xô, họ nhận xét là tốt. Năm 1970, ba chúng tôi bảo vệ thành công luận án cấp 2 tương đương học vị tiến sĩ bây giờ. Năm 1975, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp và Nhà nước mới làm lễ công nhận 5 phó tiến sĩ đầu tiên trong nước, trong đó có tôi.
Điều đáng buồn là thời đó nghiên cứu xong cũng chẳng giúp được nhiều để người dân bảo vệ RNM, khó lắm.
Thời điểm nào RNM bị huỷ hoại nhiều nhất và làm giáo sư cảm thấy đau lòng?
- Những năm 1970 và 1980, khi phong trào trồng cói, nuôi tôm xuất khẩu phát triển, người dân và chính quyền nhiều địa phương phá tanh bành RNM ở ven biển từ Bắc tới Nam. Chính điều này làm cho RNM nghèo đi nhanh chóng, có nơi rừng bị chặt phá trắng.
Chuyện đau lòng thế này, vì đồng lương thấp, đời sống khó khăn nên cán bộ và một số cơ quan nhà nước đổ ra nuôi tôm. Muốn mở rộng diện tích thì điều tất yếu là người ta phải phá rừng. Năm 1991, một cơ quan quản lý ở Năm Căn cho các gia đình chính sách sử dụng RNM diện tích 100ha ở phía bãi bồi Tây Nam mũi Cà Mau đắp đầm nuôi tôm thử nghiệm. Người ta lợi dụng khai thác rộng lên đến 4.500ha. Hậu quả là toàn bộ nguồn tôm giống tự nhiên bị mất.
Chuyện này được phản ánh lên Quốc hội khoá 6. Uỷ ban Khoa học nhà nước giao cho tôi và Giáo sư Lê Đức An phụ trách một đoàn cán bộ khoa học vào nghiên cứu tác động môi trường do phá rừng nuôi tôm ở khu vực bãi bồi đó. Nghiên cứu trong 3 tháng, chúng tôi hoàn thành báo cáo.
Khi đoàn cán bộ của GS Đặng Hữu - chủ nhiệm UB Khoa học Nhà nước vào kiểm tra, tôi đã chỉ cho họ thấy RNM bị tàn phá do nuôi tôm để lại nặng nề thế nào. Bên ngoài còn rừng, nước không có mùi gì nhưng trong bờ rừng bị phá, tảo, nấm phát triển làm nguồn nước thối kinh khủng. Thối thế này thì tôm cá sống sao được!
|
* GS Phan Nguyên Hồng là thành viên Hiệp hội Hệ sinh thái RNM quốc tế, Uỷ ban IUCN về Quản lý các hệ sinh thái, Uỷ ban toàn cầu về các khu bảo vệ... Ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân năm 1997, Huân chương Lao động hạng Nhất năm 2000, Chiến sĩ Thi đua toàn quốc trong thời kỳ đổi mới (1990-1999)... GS Phan Nguyên Hồng đã đào tạo được nhiều PGS.TS hiện đang công tác trong lĩnh vực nghiên cứu và giảng dạy về bảo vệ môi trường và hệ sinh thái RNM. Ông đã xuất bản nhiều đầu sách cả bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài về lĩnh vực nghiên cứu của mình.
|
|
Vài nét về giải thưởng quốc tế Cosmos: Năm 2008, tổng cộng có 131 nhà khoa học của 25 nước được đề cử. GS Phan nguyên Hồng đã vượt qua 3 lần tuyển chọn và trở thành người duy nhất được đoạt giải thưởng quốc tế Cosmos 2008. UB Giải thưởng Quỹ Expo 90 tổ chức trao tặng giải long trọng này tại Nhật Bản hồi đầu tháng 11.2008.
|