Nói riêng về sự nghiệp giáo dục thì Đặng tiên sinh thật xứng đáng được liệt vào hàng sư biểu trong lịch sử nền Giáo dục Việt Nam.
... Ví như làm nghề dạy văn chương thì trước hết phải thuộc lòng tác phẩm, càng nhiều càng tốt… Rõ ràng ở Đặng tiên sinh là cả một kho báu về văn hóa, về giáo dục có giá trị bền vững, có sức hấp dẫn lâu dài.

Ngày nay, để giữ gìn sự trong sang tiếng Việt thì nói chung không nên dùng chữ Hán trong văn Việt . Nhưng ở đây, tôi vẫn xin được dùng ba chữ “ Đặng Tiên Sinh” để nói về người thầy: giáo sư, nhà văn , nhà học giả Đặng Thai Mai mà với tôi là một ngồn hấp dẫn lớn. Tôi có cái may mắn là được sinh ra trên đất Nghệ cùng tiên sinh. Ở xứ Nghệ, ngày trước có một nét phong tục – văn hóa này thật đáng quý. Không biết hôm nay có còn thế nữa không, nếu mất đi thì phải tiếc. Người ta hay đồn đại về người Nghệ này nọ thông minh trác việt, học lực kỉ tải.
Năm lên sáu, bắt đầu học chữ Hán, tôi đã được kể về nhiều gương sáng.
Ví như: Phan Bội Châu thủa nhỏ là thần đồng . Sáu tuổi học sách Luận ngữ cũng chỉ mấy bữa. Tám chín tuổi đã viết được văn cư tử... Còn Nguyễn Cảnh Đậu, nửa tiếng Tây không biết, nhưng khi nghe ông Nghệ diễn thuyết bằng tiếng Tây, về nhà lặp lại được nguyên văn. Ngồi dạy học tư, cuối năm chủ nhà thờ thầy tư nhân đi chợ Vinh mua dùm cuốn lịch Vạn Niên. Thầy Đậu dùng tiền uống mất và bù lại bằng cách mượn lịch rồi về nhà chép lại đúng hoàn toàn… Năm mười tuổi, bắt đầu học trường Pháp Việt, tôi lại được nghe đồn về những người học giỏi thời Tây. Tạ Quang Bửu du học tại Pháp, để tránh phải về nước làm việc cho Tây, đặc biệt để học được nhiều trường Đại Học, nên hễ trước kì thi mấy ngày cáo ốm bỏ thi. Lại đãng trí đến có bận tắm ở Pít-xin(bể bơi) cùng Tây đầm đã để tuột thứ mà không ai được để tuột đến lúc lên bờ bị la ó ầm ĩ . May là cảnh sát nhận ra anh chàng ngoại quốc đãng trí cho qua.. Hoài Thanh trong dịp thi Đíplôm(tương đương với PTCS ngày nay), đậu được thi viết ở Vinh, vào Huế thi vấn đáp với hình dáng: tóc búi cua, đầu chít khăn tang(vì mẹ mới qua đời) , che ô đen, đi guốc mộc. Học trò xứ Huế trông thấy, bảo nhau : “ Cá gỗ” đã vào kinh ứng thi, ra mà xem chúng mày ơi. Sáng hôm sau vào phòng thi, hỏi đến đâu, “ Cá gỗ” nói vanh vách đến đây. Bà giáo người Pháp không ngớt lời khen:”Tres bien ! Tres bien! “(Tốt lắm! Tốt lắm! ) ghi điểm 20/20 và cho ra với một lời đùa yêu: đừng quên cái ô che nhé. Học trò xứ Huế trố mắt nhìn theo. Riêng về Đặng Tiên sinh thì chuyện được kể là: da đen thui , xấu giai lắm, nhưng hơn mười tuổi đã ngốn hết tủ sách chữ Hán của gia đình vốn có tiếng là một trong hai tủ sách lớn nhất của tỉnh Nghệ thuở đầu thế kỉ . Học trường quốc học Vinh, tiếng tăm càng lừng lẫy, nhưng trong dịp thi Đíplôm, kì thi nhất lại hỏng vì bị điểm 0 môn Toán, mặc cho 2 môn Việt Văn và Pháp Văn đều là 19/20. Hiệu trưởng quốc học Vinh người Pháp đã toan kiện Hội đồng giám khảo trù học trò giỏi của mình. Thi lại kì 2, đậu đầu với điểm cao ít có,… những tiếng đồn đại như trên, không biết đúng sai đến đâu. Chỉ biết là ba chữ Đặng Thai Mai, cũng như những tên người khác đó đã đưa đến cho tôi nỗi thèm khát thầm lặng: giá gì mình được một phần mười, phần trăm như thế. Năm 1951, làn đầu tiên tôi được chứng kiến tiên sinh nhân dịp tiên sinh bấy giờ là Giám đốc giáo dục khu 4 cũ tới thăm trường cấp 3 Huỳnh Thúc Kháng đóng tại vùng trung du, xã Bạch Ngọc, huyện An Sơn, Nghệ An mà tôi cùng 2 bạn Đặng Thanh Lê và Đặng Anh Đào (con gái tiên sinh, nay đều là giáo sư đại học) đang học ở đây. Một bất ngờ đã có từ đó và có mãi trong tôi cho tới hôm nay là tiên sinh không xấu giai như từng nghe kể. Bởi nước da, tuy có đen thật nhưng cặp mắt tinh anh, sâu thẳm và hiền hậu, đã đi tất cả, nó tựa như phép cứu đối với cái ảo trong thi pháp đường thi để vẫn có những bài thơ kiệt tác. Trong dịp tiên sinh tới thăm trường Huỳnh Thúc Kháng, một số học trò cũ nay là giáo viên của trường như các thầy: Tôn Gia Nguyên, Nguyễn Đức Nam, Hoàng Triều … Tỏ ra vui sướng hết mực, hàng ngày cứ bám riết lấy tiên sinh để hỏi hết điều này đến điều khác. Và với tôi, cũng có dịp này mà bắt đầu biết thế nào là trí nhớ của tiên sinh, khi thấy người đọc trầm cho học trò nghe hàng mấy trang liền kinh thánh, hoặc văn chương Pháp quả thật một phương diện của tiên sinh hơn người chính là cái sức cường kỷ hiếm có đó. Điều này đối với tôi càng về sau càng được kiểm chứng trong hoàn cảnh may mắn tiếp xúc gần gũi thêm các vị đại trí thức khác của đất nước. Năm 1954, hòa bình lặp lại trên miền bắc. Thủ đô Hà Nội được giải phóng. Tôi chính thức được làm học trò và sau khi tốt nghiệp lại được làm trợ lý cho tiên sinh mấy năm trước khi Viện văn học thành lập mà tiên sinh đã chuyển sang làm Viện trưởng. Tuy thầy trò đã khác nhau về cơ quan làm việc, được sự dìu dắt hết lòng hết dạ của tiên sinh và một ý nghĩ thường đã nảy sinh trong lòng tôi : xin cám ơn số phận, đã cho tôi làm đệ tử tiên sinh (cũng như của một vài vị khác nữa). Và riêng đối với tiên sinh, tôi rất muốn dùng lại 2 chữ “sư phụ” theo nghĩa thiêng liêng ngày trước: thầy mà như cha để nói cho biết sự tri ân của mình. Mười năm qua rồi, tiên sinh đã là người thiên cổ. Nhưng vẫn là người hấp dẫn lớn đối với tôi. Tất nhiên là không chỉ cho riêng tôi. Sách vở đã chẳng hết lời ca ngợi nhân cách, tài năng, học vấn của tiên sinh, coi tiên sinh như một ông trùm văn hóa của đất nước đó sao. Dù vậy, tôi vẫn muốn được nói về nguồn hấp dẫn đó. Tôi muốn nói trước hết đến sự hấp dẫn của gia đình tiên sinh. Dù là sinh sống lâu đời ở một vùng sơn cước xã Lương Điền, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, đời sống vật chất thuở ấy chắc chắn là vô cùng thấp kém. Mà sao nảy sinh một gia đình sáng giá đến thế. Cụ nội, đậu cử nhân, làm tri huyện ở tỉnh Thanh, Pháp đến đánh chiếm, đã cáo quan về nhà, dạy học, nhất định không cộng tác với kẻ thù. Cụ thân sinh Đặng Nguyên Cẩn đậu phó bảng, học vấn từng được coi là bậc đàn anh tất cả trong giới sĩ phu Nghệ Tĩnh đương thời. Chính Phan Bội Châu cũng đã suy tôn như thế.