"Nhà nghệ sĩ không có quyền đứng ngoài xã hội, ẩn trong tháp ngà để hưởng hạnh phúc mình một cách ích kỷ và khốn nạn". "Tôi thích văn chương tranh đấu, tôi đặt nó trên văn chương tâm lý vì tôi thấy rằng văn chương cũng là khí giới mầu nhiệm để cải tạo xã hội. Nhưng tôi không thiên vị. Đành rằng nghệ thuật phụng sự nhân sinh nhưng nghệ thuật phải cho ra hồn nghệ thuật đã. Nếu nghệ thuật kém cỏi thì những tư tưởng rất hay của tác giả cũng không có một ảnh hưởng nào hết" (Trương Chính).

Phó Giáo sư, Nhà giáo Ưu tú Bùi Trương Chính
Xin cho phép tôi được gọi người đã khuất bằng anh, cách xưng hô thân mật mà tôi vẫn sử dụng trong những lần cuối gặp anh tại nhà riêng nhỏ nhắn xinh xắn tại khu tập thể Láng Hạ, Hà Nội.
Có thể gọi anh là người thầy theo nghĩa rộng cũng như nghĩa hẹp. Trong lĩnh vực văn học, có thể gọi anh là nhà văn, nhà phê bình, nhà dịch thuật, nhà khảo cứu, nhà từ điển học, nhà văn học so sánh,... song có lẽ danh hiệu đúng nhất là nhà nghiên cứu. Về phương diện dịch, giới thiệu, nghiên cứu văn học Trung Quốc, sau Đặng Thai Mai, anh xứng đáng được xếp vào vị trí "Á quân" song gọi anh là nhà Trung Quốc học cũng không đủ vì thành tựu nghiên cứu văn học Việt Nam của anh còn nổi bật hơn với những bài viết, tiểu luận, chuyên khảo về ca dao, tục ngữ, ngụ ngôn, về Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, về Nhất Linh, Khái Hưng, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Lê Văn Trương, Trương Tửu, Thạch Lam, về Nguyễn Tuân, Nguyễn Đình Thi, Đặng Thai Mai, Hoài Thanh,...
Người thầy, nhà văn, nhà nghiên cứu văn học đáng kính đó là Phó Giáo sư, Nhà giáo Ưu tú Bùi Trương Chính, bút danh Trương Chính. Anh sinh ngày 16-7-1916, quê ở xã Thuận Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Ông cụ thân sinh là Bùi Lê Lương, năm 1930 làm Lý trưởng song lại có những hành vi biểu hiện sự đồng tình với các chiến sĩ cộng sản ở địa phương nên đã bị bắt giam sáu tháng. Chắc rằng nghĩa cử đó đã ít nhiều ảnh hưởng đến sự hình thành thái độ chính trị tiến bộ của chàng thanh niên trẻ tuổi.